Tìm kiếm
Tin tức

Làng nghề Chiếu gỗ Nhị Khê

"Tương truyền, vào thời vua Lê - chúa Trịnh (thế kỷ 16), có một người tên là Doãn Văn Tài từ đâu về thôn Khánh Vân, xã Hòa Bình bên kia sông Tô Lịch, với nhã ý dạy nghề làm đồ gỗ cho người trong làng - cụ Đạt kể chậm rãi. Dạy được một thời gian, thấy không vào, dân mụ muội cả đầu óc, ông cụ sinh chán nản, mới lội sông qua bên này - tức làng Nhị Khê, xã Nhị Khê cũng huyện Thường Tín, tìm người truyền nghề. Khi người Nhị Khê đã học được kha khá, nhằm ngày 25 tháng mười, ông cụ bỗng rời đi không trở về. Từ đó, người Nhị Khê lấy ngày này làm ngày giỗ Tổ làng nghề, gọi người có công truyền nghề là cụ Tổ tiên Thánh sư".

Trưởng thôn Nguyễn Thảo rất hứng chí với đề tài truyền thống: "Nhị Khê, cả làng cả tổng làm nghề tiện gỗ". Chỉ tay về phía đình làng, anh gật gù: "Bao giờ Thường Tín hết cây, sông Tô cạn nước thì… Nhị Khê bỏ nghề…".

Chẳng có gì ngạc nhiên bởi lúc trước ông từ Đạt đã thống kê rằng "từ cái thời bao cấp, trong làng đã có 300 hộ chuyên nghề tiện gỗ". Còn  hiện nay, làng có gần 500 hộ (nghe nói gấp ba các làng bên), với khoảng 1.850 nhân khẩu, không có hộ nào là không theo nghề cụ Tổ tiên Thánh sư!

Anh Thảo cho biết, trước đây, từ gỗ, bà con "đẽo" ra hàng trăm thứ sản phẩm: vòng câu cá, bát điếu, ống hương, cây thắp nến, cây để hoa quả… Cánh "lái làng" rong ruổi khắp các chợ trong huyện, vào nội đô, sang bên Hưng Yên, Hải Dương… vừa bán buôn, lại vừa "trao" tận tay người tiêu dùng. Bây giờ, những mặt hàng "độc chiêu" ấy không phải không còn người làm, nhưng nó cứ nhạt dần, bởi "tiền thu được chỉ đủ tiêu ở trong làng".

- Vì thế mà cả làng rủ nhau cùng làm chiếu, mành gỗ xuất khẩu? - Tôi hỏi trưởng thôn.

- Thời nay, cả nước, đâu đâu người ta cũng thi "bơi ra biển lớn", chẳng lẽ Nhị Khê lại không có người "biết bơi?" - Anh Thảo phát mạnh tay xuống đùi nói lớn - Bởi vậy, làng đã xuất hiện nhiều "đại gia", cung cách làm ăn quy củ ra trò. Chủng loại sản phẩm thì khỏi phải chê, phong phú gấp nhiều lần so với trước.

Cả làng Nhị Khê làm đồ tiện gỗ thì có đến… 101% hộ sắm máy móc, trang thiết bị tốt phục vụ sản xuất và thuê thợ làm. Hầu hết bà con làm chiếu và mành xuất khẩu, còn đâu là đồ thờ, hàng mỹ nghệ… Đại để thị trường cần thứ gì mà đáp ứng được thì người Nhị Khê "tiện" thứ đó, bất kể là dễ hay khó đến mấy cũng quyết làm cho kỳ được, dù là bằng gỗ hay xương, sừng, ngà.

Anh Nguyễn Đức Cường , gia đình theo nghề lâu năm, đang xoay trần cùng với đám thợ. Thấy anh bạn tôi cứ "chặc chặc" ngạc nhiên về quy mô sản xuất, anh Hùng nói nhún nhường: "Nhị Khê dễ không bằng một phần mười so với làng Đồng Kỵ (Bắc Ninh) - nơi có tới 500 giám đốc, phó giám đốc - đâu". Cơ sở của anh Hùng chuyên sản xuất chiếu, mành gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ, trên 60 thợ phần lớn là người địa phương.

Được hỏi về sức tiêu thụ của thị trường ra sao, bà chủ Trần Thị Mai cho biết, nghề tiện gỗ ở làng vẫn đang ăn nên làm ra. Riêng cơ sở của gia đình chị, thợ thường xuyên có việc, thu nhập ổn định tám trăm nghìn đến một triệu đồng/người/tháng. Sản phẩm làm ra cung cấp cho các công ty xuất nhập khẩu, chủ yếu là ở phía Nam. Tôi hỏi đùa: "Việt Nam vào WTO, làng mình thế nào, có "vào" không?". Chị Mai bĩu môi: "Khó khăn - thách thức cứ là cầm chắc, mỗi ngày một "của hiếm người khôn". Bây giờ, cả làng cùng "đá bóng" chung một sân đã đủ mệt; nay mai thì có khi cả… thế giới cùng nhảy vào "đá chung sân" chứ chả đùa…".

Của báu riêng của Nhị Khê giờ đã được phổ biến sang cả vùng lân cận. Chị Nguyễn Thị Liên, người đã "gánh" nghề sang làng Văn Xá (Thường Tín), sởi lởi kể: "Chị là con gái Nhị Khê lấy chồng bên này. Ngày trước, các cụ giấu, cấm truyền nghề dữ lắm, ai thạo đến mấy, đi khỏi làng làm gì thì làm, còn nghề này tuyệt đối không được phép truyền dạy. Các nàng dâu lại càng không dám… Như chị, làm dâu Văn Xá đến mấy chục năm nay, thế mà mới chỉ được "cụ tổ cho phép" độ mươi năm chứ đã nhiều nhặn gì".

Cơ ngơi gia đình chị Liên không rộng, phần lớn dành chỗ để sản xuất mành và chiếu gỗ. Nhỏ mà nó có đủ thứ của một xí nghiệp: máy cưa, máy đột, bộ phận quét sơn, lò sấy, đánh bóng. Từng đống gỗ xếp ngồn ngộn cạnh những búa, kìm, đục, dao, kéo… Thúng, chậu, mẹt rải từ trong xưởng ra tận sân, trên bày biện đủ thứ tựa đồ hàng: những hạt hình quả trám, lại có loại nhỏ, tròn y như hạt sen mới bóc trắng nõn. Góc xưởng thế kia lổn nhổn những khoanh tròn, trên có những lỗ na ná như những tổ ong, có cái giống vòi hoa sen. Thấy có người ngắm nghía thích thú, con gái chị Liên giảng giải: "Gỗ tròn cưa ra, qua máy đột để tạo hạt có hình khối thuôn, trám hay tròn, là vật liệu chính để làm mành gỗ…".

Chị Liên cũng xúm vào góp chuyện, hướng dẫn cách xâu hoa các hạt sơn xanh, đỏ, tím, vàng; các kiểu tết mành bắt "gu" với từng loại đối tượng tiêu dùng. Chị tỏ ra khá sành điệu: "Xâu hoa và tết mành đều không khó, làm nhiều khắc quen. Cái khó là ở con mắt nghệ thuật. Người có kinh nghiệm lâu năm thường xem riêng việc xâu hoa - tết mành đã là một nghề, không phải ai cũng theo được. Vì thế mới có những nghệ nhân chuyên thao tác các việc đó".

Cơ sở sản xuất của gia đình chị Liên mới nuôi hơn chục thợ, mà vốn cũng ngốn hết vài trăm triệu đồng. Dẫn tôi đi ngó quanh xưởng, bà chủ phân bua: "Chú nom, đám gỗ chỉ như bó củi, mà nó "ăn" của chị ngót nghét 200 triệu chứ ít à! Đống chiếu kia nữa, có vài cái thôi nhưng cũng chục triệu đồng cả thảy".

Văn Xá là nơi "hưởng sái", tức là được truyền nghề muộn, nên số hộ làm chiếu gỗ, mành gỗ chỉ đếm trên đầu ngón tay. Dù sao, nếu không có những người con dâu tảo tần, "đổ mồ hôi, sôi  nước mắt" mạnh dạn "cõng" công việc từ Nhị Khê về như chị Liên thì có lẽ còn lâu mới có người theo được. Và từ đây, công ăn việc làm đẻ ra, con người có thu nhập, làng quê ổn định. Như thế, từ Nhị Khê sang Văn Xá, chúng tôi đã được chứng kiến một làng nghề truyền thống và một nơi được truyền thụ để chung hưởng hạnh phúc. Cái cảnh "ngăn sông cấm chợ", làng nào biết làng ấy ngày xưa nay đã không còn…

Theo Hà nội mới
Các tin cùng chuyên mục
Hỗ trợ trực tuyến